Thứ Sáu, 17 tháng 6, 2016
SKKN phương pháp giảng dạy các yếu tố hình học trong toán 4 nhằm phát huy khả năng sáng tạo của học sinh
- Dùng ê ke để vẽ hai đường thẳng vuông góc nào đó (tách ra khỏi hình chữ
nhật), rồi cho biết hai đường thẳng vuông góc đó tạo thành bốn góc vuông.
- Giáo viên cho các em nhận biết hình ảnh hai đường thẳng vuông góc với nhau
có trong thực tế.Ví dụ: hai cạnh của góc bảng đen vuông góc với nhau; hai
đường mép cắt nhau của một bìa quyển sách vuông góc với nhau; hai kim đồng
hồ chỉ lúc 3 giờ đúng nằm trên hai đường thẳng vuông góc với nhau.
Để các em có sự sáng tạo và tư duy tốt trong quá trình nhận biết hai đường
thẳng vuông góc với nhau ta thường làm như sau:
Trước hết trong Toán 4 không đưa ra “định nghĩa” khái niệm, cũng như chưa
đưa ra những “dấu hiệu” về hai đường thẳng vuông góc với nhau, mà mới ở mức
độ hình thành biểu tượng về hai đường thẳng vuông góc qua “hình ảnh” cặp
cạnh vuông góc với nhau trong hình chữ nhật. Bởi vậy, để nhận biết hai đường
thẳng vuông góc, trong Toán 4 thường được thực hiện như sau:
- Quan sát, nhận dạng tổng thể, bằng “trực giác” nhận ra hai đường thẳng vuông
góc, chẳng hạn: Chỉ ra hai đường thẳng vuông góc (nếu có) trong các hình sau :
N
B
C
Q
M
D
A
P
a)
b)
I
H
E
K
c)
- Dựa vào hình chữ nhật hoặc hình vuông ( theo cách giới thiệu hai đường thẳng
vuông góc trong Toán 4 )
A
B
M
D
Hai đường thẳng BC và
C
Q
DC vuông góc với nhau
N
P
Hai đường thẳng MQ
và PQ vuông góc với nhau
13
- Dùng ê ke để nhận biết hai đường thẳng vuông góc:
7.4.4. Dạy về “Hai đường thẳng song song”:
Nhằm phát huy sự sáng tạo về dạng toán Hai đường thẳng song song thì
giáo viên cần hướng học sinh đến sự tư duy, đó là: Hai đường thẳng song song
là hai cạnh đối diện của hình chữ nhật được kéo dài về hai phía. Nội dung dạy
học đó có thể thực hiện như sau:
A
B
D
C
- Vẽ hình chữ nhật ABCD, lưu ý góc A vuông, góc D vuông (đánh dấu góc
vuông trên hình vẽ).
- Kéo dài về hai phía cạnh AB và cạnh DC (tô màu hai đường thẳng AB, DC đã
kéo dài).
Ta có hai đường thẳng AB và DC song song với nhau (hai đường thẳng song
song không bao gời cắt nhau).
- Quan sát trực quan (tách rời hình chữ nhật) hai đường thẳng song song nào đó,
chẳng hạn: đường thẳng MN và PQ song song với nhau, rồi giới thiệu “đây là
hai đường thẳng song song”.
- Giáo viên cho học sinh nhận biết “hình ảnh” hai đường thẳng song song với
nhau có trong thực tế. Ví dụ: Hai chấn song cửa sổ song song với nhau; hai cạnh
đối diện của bảng lớp học hình chữ nhật song song với nhau; hai đường ray tàu
hỏa song song với nhau,…
- Học sinh tự sáng tạo và vẽ vào giấy kẻ ô li (hoặc giấy có kẻ ô vuông) hai
đường thẳng song song (dựa vào các đường kẻ song song có trong giấy ô li như
là “hai cạnh”của hình chữ nhật được kéo dài ra).
14
- Ở mức độ ban đầu có thể quan sát trực giác, nhận dạng tổng thể để nhận ra
hai đương thẳng song song .
Ví dụ: Nêu tên các cặp cạnh song song có trong mỗi hình sau:
E
D
N
M
G
H
I
P
Q
- Giáo viên có thể cho các em tư duy dựa theo cách hình thành biểu tượng về hai
đường thẳng song song trong sách Toán 4: Hai đường thẳng do hai cạnh đối diện
của hình chữ nhật hoặc hình vuông kéo dài thì hai đường thẳng đó song song với
nhau.
- Giáo viên có thể cho các em nhận xét sau: Trong hình chữ nhật ABCD, cặp đối
diện AB và DC là một cặp cạnh song song với nhau. Hai cạnh đó cùng vuông
góc với cạnh AD (xem hình vẽ). Từ đó, cho ta “hình ảnh ” hai đường thẳng AB
và DC cùng vuông góc với đường thẳng AD và song song với nhau.
B
A
D
C
Ví dụ : Trong hình ABCDEG nếu quan sát thấy
các góc A vuông, góc G vuông,
góc C vuông, góc D vuông, ta có thể nêu được : hai cạnh AB, GE song song với
nhau, hai cạnh BC, ED song song với nhau (chưa cần giải thích vì sao).
B
A
G
C
E
D
7.5.5. Dạy khái niệm ban đầu về hình bình hành, hình thoi:
Trong chương trình Toán 4, mức độ chỉ là “Giới thiệu hình bình
hành”,“Giới thiệu hình thoi”. Học sinh bước đầu làm quen với biểu tượng “hình
bình hành, “hình thoi” thông qua các hình ảnh thực tế (hình ảnh các hình được
15
trang trí bởi các đường thẳng song song). Học sinh nhận biết hình chủ yếu ở các
dạng tổng thể, trực giác.
* Để củng cố biểu tượng về hình bình hành, hình thoi :
Ví dụ: Bài 1 trang 102; Bài 1 trang 140 – Toán 4
Giúp học sinh nhận biết được hình bình hành (hình thoi) trong tập hợp các hình
có nhiều dạng khác nhau.
Ví dụ: Bài 3 trang 103; Bài 3 trang 141; Bài 3 trang 143 – Toán 4
Giúp học sinh vẽ thêm các đoạn thẳng, cắt gấp hình, xếp hình,… để tạo ra hình
bình hành hoặc hình thoi.
Ví dụ: Bài 3 trang 141; Bài 3 trang 143 – Toán 4
Giúp học sinh thực hành vẽ hình bình hành, ghép hình để được hình bình hành,
hình thoi.
* Ngoài ra để hình thành tri thức mới cho học sinh. Tri thức mới đó cần
có sự kiểm nghiệm kết quả qua nhiều học sinh khác nhau, cần có sự phát hiện,
đóng góp trí tuệ. Tập thể học sinh cần phải đo đạc, thu thập các số liệu điều tra
thống kê.
Ví dụ : Bài Diện tích hình thoi.
Yêu cầu tính diện tích hình thoi ABCD, khi biết 2 đường chéo AC = m,
BD = n (hình a)
- Để tìm công thức tính diện tích hình thoi theo độ dài 2 đường chéo, học
sinh có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau:
+ Cách 1: Cắt hình tam giác AOD và hình tam giác COD rồi ghép với
hình tam giác ABC để được hình chữ nhật AMNC (hình b).
Ta có: Diện tích( hình thoi ABCD) = diện tích ( hình chữ nhật AMNC ) =
m×
n
m×n
=
2
2
+ Cách 2: Cắt hình tam giác COB và hình tam giác COD rồi ghép với
hình tam giác ABC để được hình chữ nhật MNBD (hình c).
Ta có: Diện tích ( hình thoi ABCD ) = diện tích (hình chữ nhật MNBD) =
A
m
m × nB
× n=
.
2
2
O
M
N
B
N
AO
C
D
( Hình a )
B
A
C
( Hình b )
M
D
( Hình c )
16
Do đó để kiểm nghiệm kết quả, phát huy tính chủ động sáng tạo và tinh
thần hợp tác của học sinh. Giáo viên yêu cầu học sinh hợp tác theo nhóm nhỏ để
tổ chức hoạt động dạy học và đạt được hiệu quả cao nhất.
7.6.6. Dạy về diện tích hình bình hành:
Giải các bài toán có tính chất chuẩn bị này, học sinh có thể tính ra được
kết quả dễ dàng nhằm tạo điều kiện cho các em tập trung suy nghĩ váo các mối
quan hệ toán học và các yếu tố hình học trong bài toán:
Ví dụ : khi dạy bài Diện tích hình bình hành, giáo viên thường thực hiện
theo các bước sau:
+ Cho hình bình hành ABCD, rồi giới thiệu chiều cao và đáy hình bình
hành ( chiều cao AH, đáy DC ):
A
B
Chiều cao
H
D
C
Độ dài đáy
+ Xây dựng quy tắc (công thức) tính diện tích hình bình hành bằng cách
cắt hình bình hành ABCD rồi ghép thành hình chữ nhật ABIH (diện tích hình
bình hành ABCD bằng diện tích hình chữ nhật ABIH).
A
A
B
D
B
H
C
C
a
I
a
(S là diện tích, a là độ dài đáy, h là chiều cao của hình bình hành)
S=axh
Ví dụ : Trong Toán 4, việc xây dựng quy tắc ( công thức ) tính diện tích
hình bình hành, hình thoi chủ yếu dựa vào quy tắc ( công thức) tính diện tích
hình chữ nhật ( đã học ) bằng cách cắt ghép hình bình hành ( hình thoi) thành
hình chữ nhật thích hợp. Chẳng hạn:
A
D
B
A
B
H
a
C
H
aC
I
17
B
A
n
2
O
M
B
n
2
C
A
D
O
m
N
C
m
Khi vận dụng công thức tính diện tích hình bình hành (S = a x h); diện
tích hình thoi (S = m x n : 2), học sinh cần hiểu ý nghĩa của các chữ a, h, S,
m, n trong công thức đó là gì? Là độ dài của cạnh nào ở trong hình bình hành
hoặc hình thoi, đặc biệt độ dài đó phải cùng đơn vị đo.
Bản thân tôi thấy rằng khi chưa sử dụng Sáng kiến kinh nghiệm, dạy học
theo phương pháp thông thường, theo đúng nội dung sách giáo khoa còn
nhiều hạn chế, tỉ lệ học sinh giải quyết trọn vẹn những bài toán có nội dung
hình học còn quá ít.
Khi sử dụng Sáng kiến kinh nghiệm đặt yêu cầu cao đối với quá trình
dạy học chất lượng được nâng lên rõ rệt, hạn chế rất nhiều số lượng học sinh
yếu ở nội dung này.
Với khả năng áp dụng sáng kiến nêu trên, tôi cho rằng Sáng kiến kinh
nghiệm này phổ biến nhân rộng ra nhiều đối tượng sử dụng, nhiều trường và
được thực hiện ở các khối lớp thì chất lượng bộ môn còn được cải thiện
nhiều hơn và như vậy Sáng kiến kinh nghiệm có hiệu quả thực tế cao hơn.
Khi thực hiện sáng kiến đạt yêu cầu, công tác giảng dạy của tôi đạt hiệu
quả rất cao, chất lượng học sinh năng khiếu nâng lên một cách rõ rệt. Sáng
kiến này có thể được thực hiện ở tất cả các lớp và các đối tượng học sinh.
8. Những thông tin cần được bảo mật: không
9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Trường Tiểu học, giáo viên, học sinh trong trường, học sinh lớp 4, cơ sở
vật chất, đồ dùng dạy học, hình ảnh trực quan, trừu tựng hình học,…
10. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến:
10.1. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tôi::
Với kinh nghiệm giảng dạy, tôi đã áp dụng: “Phương pháp giảng dạy các
yếu tố hình học trong Toán 4 nhằm phát huy khả năng sáng tạo của học
sinh” giúp các em nắm vững và vận dụng kiến thức, kỹ năng giải toán hình tốt.
Tôi nhận thấy học sinh lớp tôi hứng thú học tập. Các em mạnh dạn phát
biểu ý kiến xây dựng bài, vẽ hình nhanh, chính xác. Học sinh ham học, tự tin,
chất lượng học tập được nâng lên một cách rõ rệt. Trong quá trình học Toán, học
18
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét