Thứ Tư, 9 tháng 3, 2016
SKKN Góp phần rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức Toán học để giải quyết một số bài toán có nội dung thực tiễn
11
học các môn học khác, vào việc tự học sau khi ra trờng và có tiềm lực nghiên
cứu khoa học ở mức độ phổ thông; phải hiểu biết nhận thức luận duy vật và
biện chứng trong Toán học;
2) Học sinh phải thể hiện một số phẩm chất đạo đức của ngời lao động
mới (qua hoạt động học Toán mà rèn luyện đợc): đức tính cẩn thận, chính
xác, chu đáo, làm việc có kế hoạch, có kỷ luật, có năng suất cao; tinh thần tự
lực cánh sinh, khắc phục khó khăn, dám nghĩ dám làm trung thực khiêm tốn,
tiết kiệm, biết đợc đúng sai trong Toán học và trong thực tiễn.
Ngoài ra, học sinh thấy và thể hiện đợc cái đẹp, cái hay của Toán học
bằng ngôn ngữ chính xác, trong sáng, bằng lời giải gọn gàng, hình thức trình
bày sáng sủa, bằng những ứng dụng rộng rãi Toán học trong thực tiễn.
Chất lợng đào tạo những ngời lao động mới qua môn Toán là chất lợng
tổng hợp bao gồm khối lợng kiến thức và phơng pháp toán học theo quan
điểm hiện đại cùng nhận thức luận Mácxít, kỹ năng và lòng hăng say vận
dụng những hiểu biết đó vào thực tiễn.
1.1.3.2. Rèn luyện năng lực vận dụng Toán học vào thực tiễn góp phần
tích cực hóa trong việc lĩnh hội kiến thức
Trong dạy học Toán, để học sinh tiếp thu tốt, rất cần đến sự liên hệ gần gũi
bằng những tình huống, những vấn đề thực tế. Những hoạt động thực tiễn đó
vừa có tác dụng rèn luyện năng lực vận dụng Toán học vào thực tiễn vừa giúp
học sinh tích cực hóa trong học tập để lĩnh hội kiến thức. Giáo s Đào Tam
cũng rất quan tâm tới vấn đề này, đợc thể hiện khá cụ thể trong cuốn Phơng
pháp dạy học Hình học ở trờng THPT [33].
ở những lớp dới, thầy giáo thờng dùng những cách nh cho điểm,
khen chê, thông báo kết quả học tập cho gia đình, ... để gợi động cơ. Càng
lên lớp cao, cùng với sự trởng thành của học sinh, với trình độ nhận thức
và giác ngộ chính trị ngày càng đợc nâng cao, những cách gợi động cơ
xuất phát từ nội dung hớng vào những nhu cầu nhận thức, nhu cầu của đời
sống, trách nhiệm đối với xã hội, ... ngày càng trở nên quan trọng. Trong
giảng dạy Toán, hình thức gợi động cơ cần đợc quan tâm, chú ý đến sự liên
hệ với thực tế. Chẳng hạn, trong gợi động cơ mở đầu và gợi động cơ kết
thúc, nhiều trờng hợp có thể sử dụng hình thức gợi động cơ xuất phát từ
thực tế. Trong những hoạt động củng cố kiến thức, có hình thức củng cố
12
bằng ứng dụng, trong đó có ứng dụng kiến thức trong những tình huống
thực tế.
Kỹ năng toán học hóa các tình huống thực tiễn đợc cho trong bài toán
hoặc nảy sinh từ đời sống thực tế nhằm tạo điều kiện cho học sinh biết vận
dụng những kiến thức Toán học trong nhà trờng vào cuộc sống, góp phần
gây hứng thú học tập, giúp học sinh nắm đợc thực chất vấn đề và tránh
hiểu các sự kiện toán học một cách hình thức. Để rèn cho học sinh kỹ năng
toán học hóa các tình huống thực tiễn, cần chú ý lựa chọn các bài toán có
nội dung thực tế của khoa học, kỹ thuật, của các môn học khác và nhất là
thực tế đời sống hàng ngày quen thuộc với học sinh. Đồng thời, nên phát
biểu một số bài toán không phải thuần túy dới dạng toán học mà dới dạng
một vấn đề thực tế cần phải giải quyết. Thí dụ Bài toán: "Cho đ ờng thẳng d
và hai điểm A, B cùng nằm trên một mặt phẳng có bờ là d. Hãy tìm trên đờng thẳng d một điểm M sao cho tổng khoảng cách MA + MB nhỏ nhất" [7,
tr. 70] có thể cho dới dạng "Hàng ngày bạn An phải đi từ nhà đến bờ sông
xách nớc để tới cây cho ruộng rau ở cùng một phía với bờ sông. Hỏi bạn
An phải chọn vị trí nơi lấy nớc tại bờ sông ở chỗ nào để quãng đờng đi từ
nhà đến ruộng rau là ngắn nhất?"
1.1.3.3. Rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn,
giúp học sinh có kỹ năng thực hành các kỹ năng Toán học và làm quen dần
các tình huống thực tiễn
Trong thực tế dạy học ở trờng phổ thông, một vấn đề nổi lên là giáo viên
chỉ quan tâm, chú trọng việc hoàn thành những kiến thức lí thuyết quy định
trong Chơng trình và Sách giáo khoa; mà quên, sao nhãng việc thực hành,
không chú tâm dạy bài tập Toán cho các em, đặc biệt những bài toán có nội
dung thực tiễn, dẫn đến tình trạng học sinh thờng lúng túng, thậm chí không
làm hoàn chỉnh đợc những bài toán thực ra rất cơ bản và ở mức độ trung
bình. Học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc vận dụng kiến thức Toán học
vào cuộc sống. Theo Trần Kiều, việc dạy học Toán hiện nay ''''đang rơi vào
tình trạng coi nhẹ thực hành và ứng dụng Toán học vào cuộc sống'''' [21].
Để tạo điều kiện vận dụng tri thức vào thực tế, còn phải có những kỹ
năng thực hành cần thiết cho đời sống, đó là các kỹ năng tính toán, vẽ hình,
đo đạc, ... Trong hoạt động thực tế ở bất kỳ lĩnh vực nào cũng đòi hỏi kỹ năng
tính toán: Tính đúng, tính nhanh, tính hợp lí, cùng với các đức tính cẩn thận,
13
chu đáo kiên nhẫn. Cần tránh tình trạng ít ra bài tập đòi hỏi tính toán, cũng
nh khi dạy giải bài tập chỉ dừng lại ở "phơng hớng" mà ngại làm các phép
tính cụ thể để đi đến kết quả cuối cùng. Tình trạng này có tác hại không nhỏ
đối với học sinh trong học tập hiện tại và trong cuộc sống sau này.
Trong thực tiễn lao động sản xuất, hoạt động xã hội, việc tính toán đo
đạc với độ chính xác cần thiết thờng xảy ra từng giờ, từng phút; phải biết vận
dụng Toán học nh tính nhẩm, tính bằng bảng tính, thớc tính, bảng đồ thị, toán
đồ, máy tính, ... một cách thành thạo và đúng đắn. Ngoài ra, cần giải quyết
nhiều vấn đề trong thực tiễn với phơng pháp hợp lí, ngắn gọn, tiết kiệm t duy,
thời gian, tiền của và sức lao động. Việc vận dụng Toán học vào thực tiễn
cũng nh tập dợt nghiên cứu khoa học trong đó có các hoạt động nh: thu thập
tài liệu trong thực tế, mò mẫm, dùng quy nạp không hoàn toàn để dự kiến
quy luật, rồi dùng quy nạp toán học để chứng minh tính đúng đắn của các
quy luật dự kiến; thu thập tài liệu thống kê trong sản xuất, quản lí kinh tế
trong xã hội để tìm quy luật chung, ớc lợng một số dấu hiệu từ mẫu thống kê
đến tập hợp tổng quát về năng suất vụ mùa, năng suất lao động, bình quân
nhân khẩu, phế phẩm, số lợng cỡ hàng, ...
Để thực hiện tốt những hoạt động này, cần có những hoạt động tập thể,
đi vào nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, thu thập t liệu (ghi chép vào sổ thực
tế), mạn đàm với công nhân, nông dân tập thể, kỹ thuật viên, với ngời quản lí
kinh tế, ... để có đợc những tài liệu sống, rồi trên cơ sở đó dùnh kiến thức
Toán học mà phân tích hoặc để tích luỹ thực tiễn, làm vốn quý cho việc tiếp
tục học Toán cũng nh học các môn học khác. Bằng các hoạt động đó, học
sinh làm quen với các bớc vận dụng Toán học vào thực tiễn: đặt bài toán, xây
dựng mô hình, thu thập số liệu; xử lí mô hình để tìm lời giải bài toán, đối
chiếu lời giải với thực tế, kiểm tra và điều chỉnh.
Qua các hoạt động tiếp xúc với ngời lao động, ngoài thu hoạch về Toán
học, còn có thu hoạch về đạo đức, phẩm chất, quan điểm, lập trờng của họ.
Chính vì vậy mà V. I. Lênin đã nhấn mạnh: "... Từ buổi còn thơ, học sinh cần
đợc vận dụng lí thuyết vào thực tiễn. Khi trẻ em giúp đỡ các nông trang viên
tính toán hàng ngày mà tính đúng, các em đã làm một việc không phải tách
rời học tập mà chính việc đó đã giúp chúng áp dụng kiến thức vào đời sống.
Khi trẻ em giúp uỷ ban xã làm những phép tính thông kê về kinh tế cần thiết
14
thì điều đó đã giúp vào việc học tập của chúng, giúp cho việc giáo dục Cộng
sản đối với chúng" [28, tr. 437].
Chính vì vậy, việc tăng cờng rèn luyện năng lực vận dụng Toán học vào
thực tiễn một mặt giúp học sinh thực hành tốt các kỹ năng toán học (nh tính
nhanh, tính nhẩm, kỹ năng đọc biểu đồ, kỹ năng suy diễn toán học, tính có
căn cứ đầy đủ của các lập luận, ...). Mặt khác, giúp học sinh thực hành làm
quen dần với các tình huống thực tiễn gần gũi trong cuộc sống, góp phần tích
cực trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo học sinh phổ thông, đáp ứng mọi
yêu cầu của xã hội.
1.1.4. Dạy học ứng dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn là một biện
pháp có hiệu quả, nhằm chủ động thực hiện các nhiệm vụ dạy học
Tổ chức cho học sinh luyện tập ứng dụng kiến thức (bao gồm cả kỹ
năng) vào những tình huống khác nhau là một khâu quan trọng của quá trình
dạy học, không những giúp học sinh lĩnh hội và củng cố kiến thức mà còn là
cơ sở quan trọng chủ yếu để đánh giá chất lợng và hiệu quả học tập. Trên cơ
sở đó, ngời thầy lựa chọn hoạt động dạy học tiếp theo: tiếp tục củng cố hoàn
thiện nội dung đó hay chuyển sang học nội dung khác. Giai đoạn này - theo
G. Pôlya - là giai đoạn củng cố kiến thức mới đợc kết hợp, đợc làm vững
chắc, đợc tổ chức chặt chẽ, rốt cuộc trở thành kiến thức thực chất. Sự kiện
mới cần liên quan tới thế giới quanh ta, với kiến thức đã có, với kinh nghiệm
hàng ngày, dựa vào chúng, tìm trong chúng sự giải thích, nó phải phù hợp với
tính ham hiểu biết tự nhiên của học sinh.
Trong thực tiễn dạy học ở trờng phổ thông, để truyền thụ một tri thức
nào đó, các thầy giáo dạy Toán giàu kinh nghiệm thờng cho học sinh thực
hiện những bài tập đợc xây dựng có tính phân bậc từ những tình huống quen
thuộc đến những tình huống mới lạ, từ chỗ thực hiện có sự giúp đỡ của thầy
dần dần tới hoàn toàn độc lập, từng bớc đạt tới các trình độ lĩnh hội, tiến tới
hoàn toàn nắm vững kiến thức. Có thể nói một cách khác, tổ chức cho học
sinh luyện tập ứng dụng kiến thức, kỹ năng, phơng pháp toán học vào những
tình huống khác nhau là một biện pháp nhằm chủ động thực hiện tốt các
nhiệm vụ dạy học một cách toàn diện - theo Nguyễn Gia Cốc, số đông học
sinh học kém là do những học sinh này học mà không hiểu điều mình học,
không ứng dụng đợc kiến thức khi làm bài tập nói chi ứng dụng vào thực tế, ở
15
họ chỉ có những kiến thức sách vở do "nhồi nhét'''', do ''''học vẹt'''' mà có, học
mà không hiểu nhông ứng dụng đợc. Chỉ có tay nghề cao của giáo viên mới
chữa trị đợc chứng bệnh này trong chiếm lĩnh văn hóa ở ngời học. Tác giả
cho rằng, giải quyết đúng đắn quan hệ giữa lí luận và thực tiễn, giữa học và
hành, với các biện pháp bồi dỡng cho học sinh ý thức học tập trong thực tế
cuộc sống, ý thức vận dụng các kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tế,
coi trọng củng cố kiến thức kỹ năng mà học sinh đã thu nhận đợc là những
yếu tố tác động trực tiếp đến chất lợng học vấn của học sinh, đồng thời là
những yếu tố đánh giá trình độ tay nghề của giáo viên.
Nh vậy: Tăng cờng rèn luyện cho học sinh khả năng và thói quen ứng
dụng kiến thức, kỹ năng và phơng pháp toán học vào những tình huống cụ thể
khác nhau (trong học tập, lao động sản suất, đời sống...) là một nhiệm vụ quan
trọng của giáo dục Toán học, nhằm đạt đợc các mục tiêu đào tạo; tổ chức cho
học sinh luyện tập ứng dụng kiến thức để tiếp thu chúng là một khâu quan
trọng trong quá trình dạy học Toán, đồng thời cũng là một biện pháp nhằm chủ
động thực hiện các nhiệm vụ dạy học, có tác động trực tiếp và quyết định tới
chất lợng đích thực của giáo dục phổ thông. Vì thế cần phải tổ chức thực hiện
tốt khâu này. Điều đó phản ánh sự quán triệt tinh thần của Nguyên lý giáo dục.
Có thể nói: rèn luyện khả năng và ý thức ứng dụng Toán học cho học sinh vừa
là mục đích vừa là phơng tiện của dạy học toán ở trờng phổ thông.
1.1.5. Vai trò của việc rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến
thức Toán học để giải các bài toán có nội dung thực tiễn - nhìn từ một số
quan điểm về năng lực toán học
Luận văn đề cập đến một vài quan điểm về cấu trúc năng lực toán học
của một số nhà khoa học - nhằm chỉ ra rằng, toán học hóa tình huống thực
tiễn là một yếu tố của năng lực toán học; đồng thời, cũng bình luận để thấy
đợc việc rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức Toán học vào
thực tiễn là góp phần phát triển năng lực toán học ở học sinh.
Theo V. A. Cruchetxki: ''''Năng lực Toán học đợc hiểu là những đặc điểm
tâm lí cá nhân (trớc hết là những đặc điểm hoạt động trí tuệ) đáp ứng những
yêu cầu của hoạt động học tập Toán học, và trong những điều kiện vững chắc
nh nhau thì là nguyên nhân của sự thành công trong việc nắm vững một cách
sáng tạo toán học với t cách là một môn học, đặc biệt nắm vững tơng đối
16
nhanh, dễ dàng, sâu sắc những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực
Toán học'''' (dẫn theo [14]).
Theo quan điểm này, những năng lực toán học có liên quan đến những
đặc điểm tâm lí cá nhân. Trớc hết là những đặc điểm hoạt động trí tuệ. Những
điều kiện tâm lí chung, cần thiết để đảm bảo thực hiện thắng lợi hoạt động,
chẳng hạn nh: khuynh hớng hứng thú; các tình trạng tâm lí; kiến thức kỹ
năng, kỷ xảo trong lĩnh vực Toán học. Việc rèn luyện cho học sinh ứng dụng
kiến thức vào thực tiễn, nghĩa là việc rèn luyện cho học sinh ứng dụng Toán
học vào thực tiễn, có tác dụng tích cực, góp phần phát triển năng lực toán học
cho học sinh. Điều này cũng đợc thể hiện rõ ở các Mục 1.1.3.2, 1.1.3.3, 1.1.4
của Chơng 1.
Cũng theo V. A. Cruchetxki, sơ đồ khái quát của cấu trúc năng lực toán
học ở lứa tuổi học sinh bao gồm:
1) Về mặt thu nhận những thông tin toán học:
Năng lực tri giác hình thức hóa tài liệu toán học, năng lực nắm đợc cấu
trúc hình thức của bài toán;
2) Về mặt chế biến thông tin toán học:
a) Năng lực t duy lôgic trong lĩnh vực các quan hệ số lợng và các quan
hệ
không gian, các ký hiệu dấu và các ký hiệu số; năng lực suy nghĩ với các ký
hiệu toán học;
b) Năng lực khái quát nhanh chóng và rộng rãi các đối tợng, quan hệ,
các phép toán của Toán học;
c) Năng lực rút ngắn quá trình suy luận Toán học và hệ thống các phép
toán tơng ứng; năng lực suy nghĩ với những cấu trúc đợc rút gọn;
d) Tính mềm dẻo của các quá trình t duy trong hoạt động toán học;
......................................................................
Trong Quan điểm này, Toán học đợc hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó,
chẳng hạn: ở tài liệu toán học trong đó có nói đến kiến thức về Toán thực
tiễn; bài toán bao gồm cả bài toán thực tiễn; ... và nh vậy việc rèn luyện cho
học sinh vận dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn sẽ góp phần tích cực
trong việc phát triển năng lực toán học của học sinh. Về bài tập Toán, ta có
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét